Legatus

VB chỉ đạo điều hành

Một số vấn đề cần biết về chỉ số năng lực canh tranh cấp tỉnh PCI

11/15/2018 3:30:35 PM

 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BIẾT VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH PCI

Chỉ số PCI do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện với sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Việt Nam. Chỉ số PCI do một nhóm chuyên gia trong và ngoài nước của VCCI cùng hợp tác thực hiện.

Chỉ số PCI là tên viết tắt tiếng Anh của Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness Index) – Chỉ số đo lường và đánh giá chất lượng điều hành kinh tế, mức độ thuận lợi, thân thiện của môi trường kinh doanh và nỗ lực cải cách hành chính của của chính quyền các tỉnh, thành phố tại Việt Nam, qua đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Được xây dựng từ dữ liệu điều tra doanh nghiệp thường niên có quy mô lớn nhất, thực hiện một cách công phu nhất tại Việt Nam hiện nay, Chỉ số PCI chính là “tập hợp tiếng nói” của cộng đồng doanh nghiệp dân doanh về môi trường kinh doanh tại các tỉnh, thành phố ở Việt Nam.

Mục đích, Chỉ số PCI không nhằm mục đích nghiên cứu khoa học đơn thuần hoặc để biểu dương hay phê phán những tỉnh có điểm số PCI cao hay thấp. Thay vào đó, chỉ số PCI tìm hiểu và lý giải vì sao một số tỉnh, thành vượt lên các tỉnh, thành khác về phát triển kinh tế tư nhân, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế.

Với kết quả công bố thường niên cùng hệ thống dữ liệu đăng tải công khai trên trang web của dự án (www.pcivietnam.vn), đây là nguồn thông tin tham khảo hữu ích cho lãnh đạo các tỉnh, thành phố nói riêng, cũng như các nhà hoạch định chính sách nói cung, có thể xác định những điểm nghẽn trong điều hành chính tế cũng như lựa chọn những giải pháp phù hợp để tiến hành những cải cách điều hành kinh tế một cách hiệu quả nhất.

Chỉ số PCI có cách tiếp cận xuất phát từ chính thực tiễn Việt Nam và thiết kế theo hướng các tỉnh có thể áp dụng các biện pháp cải cách trong điều hành kinh tế. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu tới sự tăng trưởng kinh tế của một tỉnh (vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường và nguồn nhân lực), nghiên cứu PCI chỉ ra rằng thực tiễn điều hành kinh tế tốt ở cấp tỉnh có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng tại Việt Nam.

Thứ hai, thông qua việc chuẩn hóa điểm số từ các thực tiễn tốt đã có ở Việt Nam, chỉ số Pci khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất lương công tác điều hành trên cơ sở các thực tiễn điều hành kinh tế tốt, sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên mô hình lý tưởng nào cả (và có thể không đạt được).

Thứ ba, bằng cách so sánh đối chiều giữa các thực tiễn điều hành với kết quả phát triển kinh tế, chỉ số PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng các thực tiễn điều hành kinh tế tốt đối với thu hút đầu tư và tăng trưởng.

Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành chỉ số PCI được thiết kế theo hướng dễ hành động, đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức các tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đầu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện.

Đối tượng tham gia đánh giá PCI: PCI được xây dựng từ cảm nhận và đánh giá những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đang hoạt động tại địa phương. Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vồn đầu tư nước ngoài hay các nhà đầu tư không nằm trong diện tham gia khảo sát PCI.

Tác động của PCI

Thứ nhất, PCI thay đổi tư duy điều hành: nếu trước đây các địa phương vẫn cho rằng vị trí địa lý, sự phát triển của cơ sở hạ tầng… mới là quan trọng thì PCI đã khẳng định tăng cường chất lượng điều hành sẽ tạo ra động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp và thu hút đầu tư.

Thứ hai, PCI tạo công cụ giám sát hiệu quả: Qua PCI, tiếng nói của doanh nghiệp được đề cao. Mục tiêu quan trọng của chính quyền là phải hướng đến dự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Đây là mục tiêu tối thượng của mọi cuộc cải cách. Và đây có lẽ là công trình nghiên cứu đầu tiên lượng hóa được các chỉ số về sự hào lòng của người dân và doanh nghiệp với các cấp . chính quyền

Thứ ba, PCI là động lực cho sự thay đổi: Hiếm có công trình nào thúc đẩy sự thay đổi không chỉ thái độ mà còn là hoạt động cụ thể của chính quyền như PCI. Rất nhiều sáng kiến mới cải cách đã được cái địa phương thực hiện.

Thứ tư, PCI thúc đẩy hợp tác và chia sẻ: PCI đã giúp lan tỏa những kinh nghiệm tốt và bài học cải cách thành công tại các địa phương tại Việt Nam: sáng kiến xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp huyện và /hoặc cấp sở ngành (DCI) đo lường hiệu quả công tác của huyện, thành phố, thị xã và sở ngành đã lan rộng từ Kiên Giang, Lào Cai tới Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Tuyên Quang và nhiều tỉnh thành phố khác.

Các chỉ số thành phần hợp thành PCI

Cho tới lần cập nhật phương pháp luận gần nhất vào năm 2017, chỉ số PCI bao gồm 10 chỉ số thành phần, bao quát những lĩnh vực chính của điều hành kinh tế của các tỉnh, thành phố có liên quan tới sự phát triển của doanh nghiệp. Bao gồm:

1.Chi phí gia nhập thị trường

Chỉ số này được xây dựng nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau, chỉ số thành phần này đo lường thời gian một doanh nghiệp cần để đăng ký doanh nghiệp, xin cấp đất (số ngày) và nhận được mọi loại giấy phép, hoàn thành mọi thủ tục cần thiết để tiến hành hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, chỉ số cũng đánh giá hiệu quả của bộ phận Một cửa khi thực hiện đăng ký doanh nghiệp thông qua các tiêu chí nhứ cán bộ tại bộ phận một cửa than thiện, nhiệt tình, am hiểu chuyên môn, hướng dẫn thủ tục tại bộ phận Một cửa rõ ràng.

2. Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất

Đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không,

- Ghi nhận những khó khăn khi tìm kiếm mặt bằng sản xuất kinh doanh phù hợp, những khó khăn này không những làm doanh nghiệp mất đi cơ hội đâu tư mà còn hạn chế khả năng tiếp cận nguồn tín dụng do không có vật thế chấp tại ngân hàng. Theo đó, chỉ số này được tính toán căn cứ vào tình trạng doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không, có đủ mặt bằng để đáp ứng nhu cầu mỏ rộng mặt bằng hay không, mức gia đất thực chất tại các địa phương trong môi tương quan giữ nhu cầu và quỹ đất của địa phương  và chất lượng thực hiện thủ tục hành chính về đất đai qua tiêu chí tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính và không gặp bất cứ khó khăn nào,

- Đánh giá các chính sách liên quan đến đất đai có tạo ra sự ổn định trong dụng đất”, liệu doanh nghiệp có cảm thấy an tâm đối với các quyền sử dụng đất dài hạn của mình không? Khi doanh nghiệp yên tâm về tính ổn định của mặt bằng sản xuất, họ sẽ tự tin đầu tư lâu dài trên mặt bằng sản xuất, họ sẽ tự tin đầu tư lâu dài trên mặt bằng đó. Theo đó, chỉ số này đánh giá rủi ro bị thu hồi mặt bằng và mức giá đền bù thỏa đáng trong trường hợp bị thu hồi.

3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin

Minh bạch là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phân biệt môi trường kinh doanh nào tạo thuận lợi cho sự phát triển khu vực tư nhân. Đánh giá tính minh bạch phải hội đủ năm thuộc tính sau: tính sẵn có của thông tin (hay khả năng doanh nghiệp tiếp cận thông tin), tính công bằng, tính ổn định, tính tiên liệu của việc triển khai thực hiện các chính sách quy định và tính cởi mở qua đánh giá mức độ phổ biến của trang thông tin của tỉnh. Theo đó, các chỉ tiêu sử dụng trong chỉ số này là: Khả năng tiếp cần tài liệu quy hoạch và tài liệu pháp lý dễ hay khó; doanh nghiệp có cần phải nhờ tới mối quan hệ để tiếp cận tài liệ hay không; trong quá trình kinh doanh có phải thương lượng với cán bộ thuế hay không; vai trò của hiệp hội trong phản biện và tư vấn chính sách và đội mở của các cổng điện tử.

4. Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước

Đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra. Ví dụ: tỉ lệ doanh nghiệp dành hơn 10% quỹ thời gian trong năm tìm hiểu và thực hiện các thủ tục quy định nhà nước; số cuộc thanh kiểm tra hàng năm, thời gian trung bình của thanh, kiểm tra thuế và các tiêu chí đánh giá hiệu quản làm việc của cán bộ công chức nói chung.

5. Chi phí không chính thức

Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không.

6. Cạnh tranh bình đẳng

Chỉ số thành phần này đánh giá môi trường cạnh tranh đối với các doanh nghiệp dân doanh trước những ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp thân quen với cán bộ chính quyền cấp tình, thể hiện dưới dạng đặc quyền, ưu đãi cụ thể khi tiếp cận các nguồn lực cho phát triển như đất đai, tín dụng… và được ưu tiên đối xử trong thực hiện các thủ tục hành chính và chính sách.

7. Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh

Chỉ số này đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của chính quyền tỉnh trong quá trình thực hiện chính sách của Trung ương, trong việc đưa những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đối khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp, cũng như tính hiệu lực thực thi của các cấp sở, ngành và huyện thị với các chủ trương của lãnh đạo tỉnh.

8. Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

Chỉ số thành phần này đánh giá các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp – những dịch vụ có vai trò then chốt để doanh nghiệp thành công trong hoạt động kinh doanh. Việc đánh giá các dịch vụ này trên 03 phương diện chính: mức độ phổ biến của dịch vụ (doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ tải tỉnh hay không), mức độ tham gia của các đơn vị cung cấp tư nhân và chất lượng dịch vụ (qua tiêu chí dự kiến có sử dụng lại dịch vụ trong  thời gian tới).

Sáu nhóm dịch vụ gồm: dịch vụ tìm kiếm thị trường, dịch vụ tư vấn về pháp luật, dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm các đối tác kinh doanh; dịch vụ xúc tiến thương mại; dịch vụ liên quan đến công nghệ; Đào tạo về kế toán và tài chính và đào tạo về quản trị kinh doanh.

9. Chỉ số đào tạo lao động

Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm

10. Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự

Đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương,chỉ số này bao gồm các chỉ tiêu dưới đây:

i. Tin tưởng HTPL sẽ đảm bảo quyền tài sản/thực thi hợp đồng của DN(%)

ii. Hệ thống pháp luật (HTPL) có cơ chế giúp DN tố cáo cán bộ nhũng nhiễu(%)

iii. Lãnh đạo tỉnh sẽ không bao che và nghiêm túc kỷ luật cán bộ nhũng nhiễu DN(%)

iv. DN sẵn sàng sử dụng tòa án để giải quyết các tranh chấp (%)

v.Tòa án các cấp của tỉnh xét xử các vụ việc kinh tế đúng pháp luật(%)

vi.Phán quyết của Tòa án là công bằng (%)

vii.Tòa án các cấp ở tỉnh xét xử vụ việc kinh tế nhanh chóng (%)

viii.Phán quyết của tòa án được thi hành nhanh chóng (%)

ix.Các CQ trợ giúp pháp lý tại tỉnh hỗ trợ DN nhanh chóng để khởi kiện (%)

x. Các chi phí chính thức và CPKCT là chấp nhận được khi GQTC qua Tòa án(%)

xi. Số lượng vụ việc tranh chấp của DN dân doanh do Tòa án thụ lý/100 DN (TATC)

xii. Tỉ lệ nguyên đơn ngoài quốc doanh/tổng số nguyên đơn tại Toà án tỉnh (%, TATC)

xiii. Tỉ lệ vụ việc kinh tế đã được giải quyết trong năm(%, TATC)

xiv. Tình hình an ninh trật tự tại tỉnh là Tốt(%)

xv. Tỉ lệ DN bị mất trộm tài sản năm qua (%)

xvi. CQ công an hỗ trợ DN giải quyết hiệu quả vụ mất trộm tài sản(%)

Phải trả tiền ‘bảo kê’ cho băng nhóm côn đồ, xã hội đen để yên ổn làm ăn(%)

P.QLXLVPHC&TDTHPL

Tin cùng chuyên mục