Legatus

Phổ biến giáo dục pháp luật

Bình Phước phấn đấu đến năm 2021, 100% số người đang chấp hành hình phạt tù; người bị áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp xử lý hành chính, người mới ra tù tái hòa nhập cộng đồng, thanh, thiếu niên vi phạm pháp luật, lang thang cơ nhỡ nắm được các quy định pháp luật cơ bản

6/29/2018 3:01:44 PM

 

Bình Phước phấn đấu đến năm 2021, 100% số người đang chấp hành hình phạt tù; người bị áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp xử lý hành chính, người mới ra tù tái hòa nhập cộng đồng, thanh, thiếu niên vi phạm pháp luật, lang thang cơ nhỡ nắm được các quy định pháp luật cơ bản

 

 Ngày 29/5/2018, UBND tỉnh Bình Phước ban hành Kế hoạch số 123/KH-UBND về việc triển khai thực hiện Đề án "Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho người đang chấp hành hình phạt tù; người bị áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp xử lý hành chính, người mới ra tù tái hòa nhập cộng đồng, thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, lang thang cơ nhỡ giai đoạn 2018-2021" trên địa bàn tỉnh (viết tắt là Đề án).

Theo đó, mục đích của Kế hoạch là phấn đấu đến năm 2021, 100% đối tượng của Đề án được phổ biến và nắm được các quy định của pháp luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ công dân; 100% trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) vào Chương trình học pháp luật, chương trình học văn hóa, học nghề, giáo dục tái hòa nhập cộng đồng; 80% cán bộ thực hiện công tác PBGDPL thuộc phạm vi của Đề án được cập nhật đầy đủ thông tin, tài liệu, kiến thức… để phục vụ công tác PBGDPL; 90% cơ quan, tổ chức, đoàn thể, cộng đồng dân cư được giao quản lý các đối tượng thuộc Đề án chủ động PBGDPL cho các đối tượng thuộc Đề án…

Kế hoạch cũng đưa ra 12 nội dung phải thực hiện để các cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động thực hiện, bao gồm:

Một là, chỉ đạo tổ chức triển khai, đôn đốc các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện Đề án và báo cáo kết quả thực hiện.

Hai là, tăng cường thực hiện công tác PBGDPL, phối hợp với các cơ quan Trung ương tổ chức điều tra, khảo sát, đánh giá nhu cầu thông tin về pháp luật của từng nhóm đối tượng thuộc phạm vi quản lý, giáo dục theo quy định.

Ba là, rà soát, đề xuất, đóng góp hoàn thiện chính sách, pháp luật có liên quan đến công tác PBGDPL thuộc phạm vi của Đề án.

Bốn là, đổi mới nội dung, hình thức, lựa chọn những nội dung PBGDPL phù hợp với đặc điểm, tính chất, từng thời điểm, địa bàn, gắn với nhu cầu tìm hiểu pháp luật của từng nhóm đối tượng; sử dụng những hình thức đa dạng, phong phú phù hợp với đặc thù của từng nhóm đối tượng, chú trọng ứng dụng công nghệ, thông tin nhằm trang thiết bị kiến thức pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho các đối tượng của Đề án.

Năm là, xây dựng và học tập nhân rộng các mô hình điểm về PBGDPL cho các đối tượng của Đề án.

Sáu là, tổ chức cấp phát tài liệu, tờ rơi, tờ gấp pháp luật cho các đối tượng được PBGDPL của Đề án, sử dụng các tài liệu, chương trình giảng dạy pháp luật do Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp xây dựng, ban hành vào giảng dạy, phổ biến tại các cơ sở giam giữ, cai nghiện bắt buộc, trung tâm trợ giúp xã hội và tại địa bàn xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh.

Bảy là, xây dựng các chuyên mục, chuyên trang PBGDPL cho các đối tượng của Đề án trên báo, đài, trang thông tin điện tử của đơn vị; các chương trình phát thanh, truyền hình về biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật, các chương trình thông tin, giải đáp PBGDPL thuộc phạm vi triển khai của Đề án.

Tám là, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật cho các đối tượng của Đề án trong phạm vi phụ trách với hình thức phù hợp với điều kiện, tình hình và nhóm đối tượng.

Chín là, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ kiến thức, kỹ năng phổ biến pháp luật cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, cán bộ, hội viên của các đoàn thể, cá nhân được giao nhiệm vụ PBGDPL thuộc Đề án.

Mười là, huy động tối đa sự tham gia của các đoàn thể, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan hành nghề pháp luật, nhà trường, cộng đồng dân cư, tổ hòa giải cơ sở, người có uy tín từ cấp tỉnh đến cơ sở cùng thực hiện công tác PBGDPL cho các đối tượng của Đề án; thông qua các chương trình phổ biến, tư vấn pháp luật, tư vấn tâm lý, hỗ trợ việc làm, cung cấp tài liệu… phục vụ công tác PBGDPL cho các đối tượng thuộc Đề án.

Mười một là, rà soát nhu cầu về trang thiết bị, kinh phí để trang bị hoặc đề xuất trang bị theo yêu cầu thực tế, bảo đảm đầu tư có trọng điểm, tiết kiệm hiệu quả.

Mười hai là, tổ chức giám sát việc thực hiện Đề án bằng hình thức thông qua báo cáo kết quả thực hiện định kỳ; tổ chức kiểm tra hoặc tự kiểm tra; xác định, lựa chọn vấn đề, địa bàn trọng tâm, trọng điểm ưu tiên tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; đánh giá tác động của Đề án đến chất lượng cải tạo, chấp hành, học tập và tái hòa nhập cộng đồng của các đối tượng thuộc Đề án, từ đó có sự điều chỉnh cho phù hợp.

Cũng trong Kế hoạch, Chủ tịch UBND tỉnh đã giao cụ thể trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Đặc biệt trong đó, Công an tỉnh là cơ quan đầu mối, tham mưu UBND tỉnh xây dựng Kế hoạch hàng năm và theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn, điều phối, đôn đốc, chỉ đạo các hoạt động thực hiện Kế hoạch; tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và tham mưu UBND tỉnh có hình thức khen thưởng, động viên kịp thời đối với tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Đề án. Triển khai thực hiện các giải pháp tăng cường công tác PBGDPL cho đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý./.

                                                             Hà Thị Nguyệt

Tin cùng chuyên mục